Những lợi ích và bất cập trong việc pha phân bón lá và thuốc bảo vệ thực vật

Pha hỗn hợp thuốc là pha chung 2 hoặc nhiều loại (thuốc BVTV hay phân bón lá) trong một bình để phun. Đây là việc nhiều người vẫn thường làm. Trong thực tế, nhiều trường hợp trên đồng ruộng cùng một lúc có 2 – 3 loại sâu bệnh phát sinh cần phòng trừ mà không có một loại thuốc nào đủ khả năng phòng trừ hết được. Nếu muốn phòng trừ phải cùng lúc phun 2 – 3 loại thuốc sẽ tốn công. Ngoài ra, một loại thuốc cũng thường chỉ có một điểm mạnh chính (như tiếp xúc hoặc nội hấp) nên khi sâu bệnh phát sinh nhiều thì hiệu quả phòng trừ bị hạn chế. Trong những trường hợp trên, việc pha chung 2 – 3 loại thuốc để cùng phun là cần thiết và nên làm.

Mục đích và lợi ích của việc pha hỗn hợp

- Để mở rộng phổ tác dụng: Thường pha chung thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh để chỉ cần phun 1 lần phòng trừ được cả sâu và bệnh. Pha chung thuốc trừ cỏ hòa bản với thuốc trừ cỏ lá rộng để cùng một lúc diệt được nhiều loại cỏ.

-Để tăng hiệu lực phòng trừ: Khi pha chung các loại thuốc có thể bổ sung tác dụng cho nhau sẽ làm tăng hiệu lực phòng trừ, nhất là khi sâu bệnh đã phát sinh nhiều cần phải ngăn chặn ngay. Thường pha chung thuốc trừ sâu nhóm Cúc tổng hợp có tác động tiếp xúc mạnh với thuốc Lân hữu cơ có tác động vị độc và nội hấp. Pha chung thuốc trừ rầy Butyl có hiệu lực chậm nhưng kéo dài với thuốc Bascide có hiệu lực nhanh nhưng mau giảm để có một hỗn hợp thuốc trừ rầy vừa nhanh lại vừa kéo dài. Trong việc phòng trừ bệnh cũng thường pha chung thuốc có tác động tiếp xúc với thuốc nội hấp. Thí dụ: để trừ bệnh đạo ôn thường pha chung thuốc Rabcide (tiếp xúc) với thuốc Fuan (nội hấp). Pha chung dầu khoáng hoặc dầu thực vật với thuốc hóa học cũng có tác dụng tăng hiệu quả rất tốt.

Từ 2 mục đích trên, việc pha hỗn hợp thuốc đưa đến lợi ích chủ yếu là giảm được số lần phun thuốc mà hiệu quả phòng trừ dịch hại vẫn cao.

Để đạt được các mục đích trên, khi pha hỗn hợp thuốc cần chú ý:

- Chỉ nên pha chung những loại thuốc có đối tượng phòng trừ hoặc cách tác động khác nhau để mở rộng phổ tác dụng và bổ sung hiệu lực cho nhau. Thường là không nên pha chung các thuốc trừ sâu bệnh có cùng gốc hóa học vì các thuốc này có cùng đặc điểm và cách tác động giống nhau.

- Hiện tại phần lớn các thuốc BVTV đều có thể pha chung với nhau nhưng cũng có một số không pha chung được vì làm giảm hiệu lực của nhau như thuốc trừ bệnh Bordeaux có tính kiềm cao không pha chung với các thuốc trừ sâu. Thuốc trừ sâu vi sinh không pha chung với các thuốc trừ bệnh vì thuốc trừ bệnh sẽ tiêu diệt hoặc hạn chế tác dụng của các vi sinh vật có trong thuốc.

- Về nồng độ các thuốc pha chung, nếu pha chung 2 loại thuốc để trừ 2 nhóm đối tượng khác nhau (thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh) thì phải giữ nguyên nồng độ mỗi loại thuốc như khi dùng riêng.

Nếu pha chung 2 loại thuốc để cùng trừ một đối tượng là sâu hoặc bệnh thì có thể giảm nồng độ 1 hoặc cả 2 loại thuốc, mức giảm nhiều nhất là 50%, lượng nước phun phải đủ theo yêu cầu.

- Thuốc sau khi pha chung xong phải phun ngay để tránh gây phản ứng phân hủy nhau.

- Hầu hết thuốc BVTV hiện nay đều có thể pha chung với phân bón lá và cũng phải phun ngay.

- Riêng thuốc trừ cỏ, nhất là thuốc trừ cỏ cho lúa và rau màu, không pha chung với nhau hoặc với thuốc trừ sâu bệnh nếu không có hướng dẫn trên nhãn thuốc hoặc chưa làm thử.

Do có nhiều lợi ích nên hiện nay các nhà sản xuất đã nghiên cứu và đăng ký đưa ra thị trường nhiều loại thuốc đã hỗn hợp sẵn có hiệu quả cao hơn các thuốc dùng riêng. Việc này mang lại một số lợi ích to lớn nữa là gần như có thêm một loại thuốc mới mà không cần tốn công nghiên cứu phát hiện ra hoạt tính mới là công việc rất khó khăn và mất nhiều thời gian.

Về tính kháng của sâu với thuốc hỗn hợp cũng giống như với thuốc đơn, nếu dùng liên tục nhiều lần và dùng không đúng kỹ thuật vẫn có thể tạo nên tính kháng cho sâu.

Lợi bất cập hại

Lạm dụng phân bón và thuốc BVTV để pha chung mất kiểm soát không những làm nông dân tốn tiền mà còn hệ lụy đến sức khỏe, ô nhiễm môi trường và khó tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững, xanh, sạch.

Kết quả điều tra của Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO) cho thấy, hiệu quả sử dụng phân bón ở Việt Nam chỉ đạt 45-50%. Điều đó có nghĩa là nông dân cứ bón 100kg phân urê hoặc NPK vào đất thì chỉ có 45-50kg được cây trồng hấp thụ. Số lượng phân bón bị rửa trôi mà cây không hấp thụ được chính là một trong những nguồn gây ô nhiễm đất. Một số loại phân bón có tồn dư axít làm chua đất, giảm năng suất cây trồng và tăng độc tố trong đất.

Thống kê của Cục Bảo vệ thực vật cho thấy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), việc nhập khẩu và sử dụng thuốc BVTV đang gia tăng một cách đáng báo động. Số lượng thuốc BVTV nhập khẩu từ 20 ngàn tấn năm 2005 lên đến gần 50 ngàn tấn năm 2014. Cả nước có khoảng 20 ngàn đại lý bán thuốc BVTV, 97 nhà máy chế biến thuốc với khoảng 30-40 ngàn tấn/năm.

Theo số liệu của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi năm hoạt động nông nghiệp phát sinh khoảng 9.000 tấn chất thải nguy hại, chủ yếu là thuốc BVTV, trong đó không ít loại thuốc có độ độc cao đã bị cấm sử dụng. Ngoài ra, cả nước còn khoảng 50 ngàn tấn thuốc BVTV tồn lưu tại hàng chục kho bãi; 37.000 tấn hóa chất dùng trong nông nghiệp bị tịch thu đang được lưu giữ chờ xử lý. Năm 2014, Việt Nam tiêu tốn 774 triệu USD nhập khẩu thuốc trừ sâu và năm 2015, dự báo kim ngạch nhập khẩu còn cao hơn những năm trước. Theo Cục BVTV, 80% nông dân phun thuốc BVTV lên cây trồng là không đúng đối tượng, làm tăng chi phí sản xuất nhưng ảnh hưởng đến môi trường, gây ô nhiễm và lãng phí, dẫn tới nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm, mất thị trường tiêu thụ trong nước lẫn xuất khẩu.

Nếu nền nông nghiệp của Việt Nam nếu không sản xuất theo hướng an toàn, xanh, sạch thì sẽ mất thị trường trong và ngoài nước. Đây là thách thức lớn nhất của nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập và là bài toán đặt ra không chỉ với nông dân mà với cả nhà quản lý vĩ mô trong tái cơ cấu nông nghiệp.


Ảnh minh họa. Nguồn:Internet

Nguồn: Tổng hợp

Chia sẻ bài viết này lên


Đối tác chính

Multimolig